Đã sang quá chiều, tôi không kịp đánh xe để trở lại phố phường – nơi gia đình nhỏ của tôi đang sống, nên quyết chí ở lại quê. Chị tôi ngạc nhiên: “Đêm nay cậu ngủ ở quê?” Tôi bảo: “Ngủ ở quê thì đã sao? Em sinh ra từ nơi này, sao lại không ở được?” Chị tôi cười: “Nếu vậy thì cậu dũng cảm. Nhưng đừng có nửa đêm lại đánh xe về thành phố đấy nhé!”. Nói rồi chị tôi bươn bải ra vườn hái rau để chuẩn bị bữa cơm chiều. Trước khi đi, chị băn khoăn: “Nhưng mà này, chả biết lúc nào mới có điện đâu. Không có điện, cậu chịu sao nổi”. Tôi trố mắt: “Chắc nó cũng chỉ cắt đến bảy giờ tối là cùng. Nóng nực thế này, cắt điện cả đêm có mà chết à?” Buông thõng cái rổ trong tay xuống đất, chị tôi chồm chổ: “Bảy giờ đã chắc gì có điện. Nó sẽ cắt suốt đêm đấy. Ba ngày nay đều thế rồi mà. Có khéo cậu phải về thành phố thôi. Không thì không chịu nổi đâu!” Tôi gầm lên: “Làm gì có chuyện cắt điện liền những ba ngày. Cái bọn thợ điện xã này nó chỉ giỏi bắt nạt nông dân”. Nhặt cái rổ lên, chị tôi lầm lũi ra vườn: “Đấy, rồi cậu xem!”.
Đang giữa hè mà đêm ập xuống rõ nhanh. Trên cánh đồng làng, mặc dù đã nhập nhoạng tối, song nông dân vẫn tràn đồng. Người gặt, người lượm lúa, người hối hả chất lúa lên máy tuốt lúa để tuốt trong đêm. Dọc đường từ đồng về làng, tôi bắt gặp những dòng xe thồ, xe cải tiến đang lặc lè chở lúa về làng. Những khuôn mặt người đen kịt chìm trong bóng đêm, làm tôi không thể phân biệt ai là đàn ông, ai là phụ nữ. Chỉ khi nghe tiếng nói, tiếng cười ríu ran của họ, tôi mới biết họ thuộc giới tính nào. Men vào dệ đường để tránh va chạm, tôi tự nhủ thầm: “Khổ thế mà vẫn cười, vẫn tiếu lâm được.Vô tư đến thế là cùng!”. Mười giờ đêm, xóm tôi, làng tôi vẫn thắc thỏm những ánh đèn dầu. Thảng hoặc một, hai nhà lấp lóa ánh đèn điện do chạy bằng máy phát điện. Tiếng nổ trong đêm giòn và rền rĩ hơn lúc ban ngày, càng làm cho quê trở nên nóng nực. Mấy luỹ tre đầu ngõ nhà tôi cao đến lưng chừng giơì đứng im phăng phắc. Không một ngọn gió mồ côi nào lọt được xuống nơi này. Cũng phải thôi, quê bây giờ toàn nhà ống. Những dãy nhà bê tông kiên cố san sát nhau, không một kẽ hở cho gió thổi qua. Mấy cái ao làng, thuở thiếu thời tôi và lũ bạn thả trâu từng ngụp lặn, mò trai mò hến, nay đã biến thành đất thổ cư. Nhà tôi, trước mặt có con sông đào khá rộng. Thuở 14,15 tuổi, chúng tôi vẫn đánh cược nhau đứa nào bơi được qua sông thì phong làm đại tướng, bây giờ chỉ còn như một con lạch nhỏ. Người ta đã đổ đất, cạp hai bờ sông lại để lấy chỗ trồng rau, trồng cây ăn quả. Có nhà còn mở cả quán nước để bán cho khách qua đường. Dưới lòng sông, rác thải nổi lều bều, tanh tưởi và nồng nặc không sao chịu nổi. Con sông quê hương xanh biếc, nước gương trong soi bóng những hàng tre hơn cả con sông trong thơ của Giang Nam ngày nào, bây giờ trở nên còm cõi và ghẻ lở, đến cả những đứa trẻ liều lĩnh nhất cũng không dám rửa tay chân. Thảo nào, cái nóng càng thêm nóng. Đã thế, đàn lợn nuôi tăng trọng để xuất khẩu của chú em họ tôi cứ thi nhau réo, nhức óc inh tai. Ấy là dạo này có dịch tai xanh chú ấy còn nuôi ít, dồn lại trong ba ngăn chuồng có bốn chục con, chứ hồi rày năm ngoái, đàn lợn nhà chú em tôi không bao giờ dưới 100 con. Lợn nhiều, đất chật, nên toàn bộ phế thải của lợn lại xối xuống sống, xuống cống rãnh quanh nhà. Thế là muỗi có cơ hội sinh sôi nhiều vô kể. Mà lạ thế! Làng tôi nghèo nhưng sao con muỗi to quá thể. Lúc đầu tôi cứ tưởng chúng là ruồi. Chúng bay hàng đàn hoa cả mắt. Cái vợt diệt muỗi mắt cáo chạy pin của Trung Quốc trong tay tôi vung lên liên tục, tiếng nổ lách tách rền rĩ, vậy mà vẫn không làm sao xua được chúng. Tôi thở dài: “Sống thế này mà sống được sao? Đã nóng, đã ô nhiễm, lại còn lắm muỗi”. Chị tôi lại cười: “Thế không sống thì bỏ nhà đi à? Cậu về có một đêm mà đã không chịu nổi. Chúng tôi sống cả đời thì chịu làm sao. Ở đâu, nó quen đấy cậu ạ!”
Quen với cái khổ, cái thiếu thì tôi cũng đã từng trải qua rồi. Nhưng đến tận thời điểm này mà làng tôi vẫn bức bối, ô nhiễm như thế này thì quả thật tôi không hiểu nổi. Những ngày này, cả nước đang phải cắt điện luân phiên. Điều này ai cũng biết, cũng cảm thông, song cắt điện liền tù tỳ ba, bốn ngày liên tục, cắt từ tờ mờ sáng đến tận nửa đêm như ở làng tôi và cứ nhè đúng vào những ngày nóng nực, oi nồng để sửa đường dây, biến áp…) thì thật tàn nhẫn. Chẳng có lẽ mấy ông bán điện nghĩ rằng: Thôi, nông dân họ đã quen khổ mãi rồi, bây giờ có khổ thêm tý nữa cũng chẳng sao. Và thế là, cắt điện được của nông dân thêm giờ nào cứ cắt!
Nhìn xóm, thôn chập chờn trong ánh đèn dầu, nhìn bà thím ruột ngoài 80 tuổi đang phành phạch quạt bằng cái quạt mo cau (mua máy phát điện thì thím tôi chỉ có nằm mơ), tôi bỗng mường tượng đến những nhà hàng, quán bar ở phố phường giờ này đang ngập tràn trong ánh điện, trong tiếng nhạc xập xình chát chúa. Đã chắc gì tiếng nhạc phát ra từ vũ trường hay hơn, hấp dẫn hơn tiếng máy tuốt lúa ở quê tôi? Đã chắc gì những khuôn mặt đỏ lựng, đang ngất ngú bên những ly rượu mạnh ở các vũ trường kia hạnh phúc, viên mãn bằng những khuôn mặt hốc hác vì bới đất lật cỏ để lo miếng cơm manh áo ở quê tôi? Song có một điều chắc chắn là, những khuôn mặt “phố phường” ấy không bao giờ phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt để lo chống chọi với hạn hán, lũ quét, lo xanh nhà hơn già đồng mỗi khi Đài báo bão như những lão nông chi điền ở quê tôi. Và phố phường nếu có bị cắt điện, thì cùng lắm họ cũng chỉ bị cắt điện trong ngày. Đố ông Điện nào giám cắt điện của người thành phố của các Hotel, khách sạn tới ba, bốn ngày liền? Tất nhiên mọi sự so sánh đều là khập khiễng. Nhưng nếu để sự khập khiễng ấy trở thành mất thăng bằng thì đó không còn là chuyện nhỏ.
Đảng và Nhà nước đã và mãi mãi ghi nhận, tôn vinh vai trò, vị thế của giai cấp nông dân trong mọi thời kỳ cách mạng và giành cho nông dân một sự quan tâm to lớn. Nghị quyết Tam nông của Đảng ra đời cũng chính là để mưu cầu lợi ích, hạnh phúc lâu bền cho nông dân, bù đắp cho nông dân, nông thôn những phần thiệt thòi so với các giai tầng khác trong xã hội. Mới đây nhất, Nghị định 68 của Thủ tướng Chính phủ quy định từ 1-8 trở đi nếu ngành Điện cúp điện không đúng như thông báo, nếu sau hai giờ khi sự cố xảy ra mà không khắc phục (nếu không có lý do chính đáng) thì ngành Điện sẽ bị phạt tăng gấp 10 lần. Điều ấy thêm một lần khẳng định Chính phủ thương dân đến nhường nào, nhất là các nhà nông quanh năm chân lấm tay bùn, mỗi lần nghe nói đến Tam Đảo núi tưởng như nghe nói về một miền đất huyền thoại trong cổ tích.
Vẫn biết việc cắt điện để điều tiết sản lượng điện trong lúc này là cần thiết và có lý; song cắt điện thế nào để vừa có lý, có tình, vừa thể hiện quan điểm tam nông lại là điều ngành Điện cần suy nghĩ thấu đáo. Đừng để những chùm điện ánh sáng trong các vườn hoa thành phố cứ nhễ nhại toả sáng chân cột suốt từ 23h đêm hôm trước cho đến 6h sáng hôm sau, (trong khi về khuya phố phường không một người qua lại). Đừng chọn những ngày nắng nóng nhất để rồi đè đường dây ra sửa, ra thay. Đừng để các vũ trường, các quán bar ứ thừa ánh sáng (như ứ thừa rượu mạnh, sơn hào hải vị, gái bao…) trong khi những bác nông dân làng tôi, làng bên phải lầm lũi tuốt lúa trong ánh đèn dầu, mỗi khi tạm nghỉ ăn cơm thì lùa cả mồ hôi và bóng đêm vào bụng…
Hãy làm thêm, làm nhiều hơn nữa những việc cần làm để giúp nhà nông bớt khổ!
Ôi chao, một đêm sống ở quê mà thương đến thế quê hương, hỡi Người!
Những ngày mất điện - tháng 6-2010
Khánh Linh |